4:22 pm - Saturday November 1, 2014

Hình thức phân phối thực phẩm chức năng

Chương X: Hình thức phân phối thực phẩm chức năng

Sản phẩm TPCN nói riêng và sản phẩm thực phẩm nói chung cũng là những hàng hóa nhưng là hàng hóa đặc biệt vì liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người. Vì thế, khi sản xuất kinh doanh, phân phối và tiêu dùng, không những chúng phải được tuân thủ những quy định pháp luật về thương mại, hàng hóa mà còn phải tuân thủ những quy định pháp luật về vệ sinh an toàn thực phẩm. Muốn kiểm soát được thực phẩm, trong đó có thực phẩm chức năng. Cần có 2 giải pháp cơ bản theo như ý kiến của chuyên gia tư vấn của thượng nghị sĩ Lugar trong buổi làm việc của đoàn viết luật  An Toàn Thực Phẩm Việt Nam tại văn phòng thượng viện hoa Kỳ ngày 6/3/2008:

+ Giải quyết vấn đề ATTP cần có cả 3 cơ quan: Cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tòa án.

+ Có một chương trình giáo dục tuyên truyền về pháp luật và kiến thức An toàn thực phẩm.

Do TPCN có những tác dụng rất lớn đến việc bảo vệ và tăng cường sức khỏe con người, mục đích của Quốc Hội Hoa Kỳ được thể hiện trong luật giáo dục và  sản phẩm bổ dưỡng ban hành năm 1994 nhằm:

- Giảm bớt sự trở ngại trong kinh doanh và tăng các sản phẩm TPCN.

- Tạo khả năng phân phối rộng rãi các sản phẩm thực phẩm chức năng tới người tiêu dùng.

- Tăng cường thông tin tới người tiêu dùng. ở nhiều nước, việc phân phối TPCN rộng rãi, bao gồm tất cả các kênh thương mại, làm tăng khả năng tiếp cận của người tiêu dùng với TPCN. Hiện nay người Nhật đã sử dụng 126 USD TPCN/ người / năm; người Mỹ: 67,9 USD TPCN / người / năm; người Châu Âu: 51,2 USD TPCN / người / năm và người Châu Á (trừ Nhật):3,2 USD TPCN / người / năm.

Qua nghiên cứu tình hình phân phối thực phẩm chức năng ở các nước có thể khái quát lại có 7 hình thức phân phối chính sau đây:

I. Các cửa hàng công cộng (Convenience Stores)

- Gồm các cửa hàng bán lẻ với 1 loại hoặc nhiều loại sản phẩm TPCN.

- Rất thuận tiện cho người tiêu dùng mọi lúc mọi nơi.

- Có thể bố trí 1 chuỗi các cửa hàng liền nhau để tiện cho người tiêu dùng lựa chọn (có thể từ 7-11 cửa hàng liên tiếp).

II. Các quầy bán lẻ trong các trung tâm thượng mại và trong hiệu thuốc (Food, Drug & Mass Market Retail Storres – FDM)

- Trong các trung tâm thương mại, siêu thị có các khu, quầy bán thuốc, bán thực phẩm chức năng. Ví dụ ở Mỹ: Wal- Mart, Costco,Wal Green….

- Các khu trưng bày TPCN được bố trí rất nhiều chủng loại, người tiêu dùng chỉ cần đẩy xe mua hàng hoặc xách sọt mua hàng đi lựa chọn rồi ra quầy tính tiền thanh toán.

Kênh này ở Mỹ cũng rất phổ biến, năm 2005 ước tính chiếm 16% giá trị trong tổng số các kênh phân phối TPCN.

- ở Việt Nam : Trong các hiệu thuốc có các quầy riêng biệt để bán TPCN.

III. Các cửa hàng sản phẩm thực phẩm tự nhiên và sức khỏe (Health & Natural Food Stores)

- Là các cửa hàng chuyên trưng bày, giới thiệu và bán các sản phẩm thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ cây cỏ tự nhiên có công dụng nâng cao sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật.

+ Có thể tổ chức 2 hình thức:

- Chuỗi các cửa hàng tự nhiên và sức khỏe ví dụ ở Mỹ: GNC Live Well; Whole Foods Market…

- Các cửa hàng sản phẩm tự nhiên và sức khỏe độc lập.

Kênh phân phối này ở Mỹ chiếm tới 32% tổng giá trị các sản phẩm TPCN (năm 2005)

IV. Bán hàng trực tiếp qua mạng ( Mail Order & Internet)

+ Khách hàng đặt hàng qua mạng (Email hoặc Internet) tới nhà phân phối. Nhà phân phối đóng gói theo chủng loại và số lượng đơn đặt hàng (băng tải theo một chuỗi các loại sản phẩm, đều hết băng tải coi như xong một đơn hàng. Nhà phân phối đảm bảo vận chuyển đến được địa chỉ theo đơn đặt hàng của khách hàng).

+ ở Mỹ và nhiều nước phát triển, hình thức này rất phổ biến. Ví dụ, ở Mỹ : “ Nutrilite” – Best of Nature. Best of Science!

V. Bán hàng qua các nhà chuyên môn [Professional sales (directly to practitioners)]

+ Các nhà chuyên môn, thường là Bác sỹ, làm việc ở các phòng khám có thể tư vấn, giới thiệu cho người tiêu dùng về các sản phẩm TPCN phù hợp với nhu cầu của họ để có thể mua ngay tại chỗ (có quầy bán TPCN riêng hoặc ở một cửa hàng nào đó).

+ Hình thức này rất thuận lợi cho khách hàng vì được tư vấn cụ thể, chính xác, phù hợp với sức khỏe, bệnh tật của mình.

VI- Các câu lạc bộ bán hàng ( Warehouse Buying Clubs)

+ Tổ chức các hình thức câu lạc bộ để trao đổi, thảo luận về những vấn đề sức khỏe, bệnh tật, giới thiệu tác dụng của các sản phẩm TPCN với sức khỏe…Trên cơ sở đó khách hàng có thể mua ngay các sản phẩm cần thiết cho mình ở quầy bán tại chỗ hoặc ở một cửa hàng nào đó.

+ Có thể lồng ghép vào nhiều loại hình câu lạc bộ: câu lạc bộ người bị tiểu đường, câu lạc bộ người bị bệnh tim mạch, câu lạc bộ làm đẹp, câu lạc bộ thấp khớp…

+ Trong hoạt động câu lạc bộ có thể có các hình thức tiếp thị, khuyến mại, nếm thử, ca nhạc…

Ví dụ ở Mỹ: Costco, Wal-Mart, SAMS-Clubs…

VII. bán hàng đa cấp ( Multi-Level Marketing Companies)

1. Định nghĩa: ( Theo Luật Cạnh tranh số 27/2004/QH11)

Bán hàng đa cấp là phương thức tiếp thị bán lẻ hàng hóa đáp ứng các điều kiện sau đây:

+ Việc tiếp thị để bán lẻ hàng hóa được thực hiện thông qua mạng lưới người tham gia bán hàng đa cấp gồm nhiều cấp, nhiều nhánh khác nhau.

+ Hàng hóa được người tham gia bán hàng đa cấp tiếp thị trực tiếp cho người tiêu dùng tại nơi ở, nơi làm việc của người tiêu dùng, hoặc địa điểm khác không phải là địa điểm bán lẻ thường xuyên của doanh nghiệp hoặc người tham gia.

+ Người tham gia bán hàng đa cấp được hưởng tiền hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác từ kết quả tiếp thị bán hàng của mình và của người tham gia bán hàng đa cấp dưới trong mạng lưới do mình tổ chức và mạng lưới đó được doanh nghiệp bán hàng đa cấp chấp thuận.

Hình 19: Sơ đồ tổ chức bán hàng đa cấp.

Hình thức phân phối thực phẩm chức năng

Hình 20: Sơ đồ mô hình bán hàng đa cấp

Hình thức phân phối thực phẩm chức năng 1

·              Cấp 1:           1

·              Cấp 2:                    6

·              Cấp 3:                   36

·              Cấp 4:                   216

·              Cấp 5:                   1.296

·              Cấp 6:                   7.776

·              Cấp 7:                   46.656

·              Cấp 8:                   279.936

·              Cấp 9:                   1.679.616

Trên thế giới, bán hàng đa cấp đã được hình thành từ thế kỷ trước. Tại Việt Nam bán hàng đa cấp xuất hiện đầu tiên từ năm 1998- 2000. Khi đó chưa có quy định về quản lý bán hàng đa cấp. Mãi đến năm 2004, trong luật cạnh tranh được Quốc hội khoá 11 ban hành, mới đề cập đến bán hành đa cấp. Năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 110/2005/NĐ- CP ngày 24/9/2005, là văn bản đầu tiên ở Việt Nam về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp. Bộ Thương mại cũ (nay là Bộ Công thương) ban hành Thông tư số 19/2005/TT- BTM ngày 8/11/2005 hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP của Chính phủ. Đến nay ở Việt Nam đã có 25 doanh nghiệp (ở Hà Nội: 11 doanh nghiệp, ở TP. Hồ Chí Minh: 12 doanh nghiệp, ở Đồng Nai:1 doanh nghiệp, ở Bình Dương: 1 doanh nghiệp) đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp với hàng hoá bán hàng đa cấp chủ yếu là TPCN, mỹ phẩm và đồ gia dụng.

2. Hàng hoá bán hàng đa cấp:

2.1. Tất cả hàng hoá đều được kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp, trừ những trường hợp sau đây:

2.1.1. Hàng hoá thuộc Danh mục hàng hoá cấm lưu thông, danh mục hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng giả, hàng nhập lậu theo quy định của pháp luật;

2.1.2. Hàng hoá thuốc phòng chữa bệnh cho người; các loại vắc xin, sinh phẩm; trang thiết bị y tế và dụng cụ y tế; các loại thuốc thú y (bao gồm cả thuốc thú y thuỷ sản), thuốc bảo vệ thực vật; hoá chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn dùng trong lĩnh vực gia dụng và y tế; nguyên liệu làm thuốc chữa bệnh; các loại hoá chất độc hại và sản phẩm có hoá chất độc hại theo quy định của pháp luật.

2.2. Hàng hoá được kinh doanh theo phương thức bán hàng đa cấp phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

2.2.1. Đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, an toàn, vệ sinh thực phẩm theo quy định của pháp luật.

2.2.2. Đảm bảo rõ ràng, hợp pháp về nguồn gốc, xuất xứ, tính năng, công dụng của hàng hoá.

2.2.3. Có nhãn hàng hoá theo đúng quy định của pháp luật.

3. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp:

3.1. Điều kiện được bán hàng đa cấp: doanh nghiệp chỉ được bán hàng đa cấp sau khi được cấp “Giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp”.

3.2. Trách nhiệm của doanh nghiệp bán hàng đa cấp:

3.2.1. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp có trách nhiệm xây dựng và công bố công khai Quy tắc hoạt động của doanh nghiệp và người tham gia trong hoạt động bán hàng đa cấp.

3.2.2. Doanh nghiệp bán hàng đa cấp có trách nhiệm cung cấp tài liệu cho người có dự định tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp của doanh nghiệp về các nội dung sau đây:

+ Chương trình bán hàng, bao gồm cách thức trả thưởng; hợp đồng mẫu mà doanh nghiệp sẽ ký với người tham gia và mọi thoả thuận khác quy định về quyền và nghĩa vụ của người tham gia; thông tin về tiêu chuẩn chất lượng hoặc chứng chỉ chất lượng (nếu có), giá cả, công dụng và cách thức sử dụng hàng hoá được bán; quy định liên quan đến bảo hành, trả lại, mua lại hàng hoá được bán;

+ Chương trình đào tạo người tham gia, bao gồm nội dung đào tạo; thời gian đào tạo; trình tự, thủ tục cấp chứng chỉ đào tạo; thời gian và nội dung bồi duỡng định kỳ cho người tham gia;

+ Quy tắc hoạt động trong đó hướng dẫn cách thức giao dịch và quy định liên quan đến bán hàng đa cấp;

+ Trách nhiệm của người tham gia;

+ Lợi ích kinh tế mà người tham gia có thể có được bằng việc tiếp thị hay trực tiếp bán hàng hoá và các điều kiện để có được lợi ích kinh tế đó;

+ Điều kiện chấm dứt hợp đồng của người tham gia và quyền, nghĩa vụ phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng này;

+ Bảo đảm tính trung thực và độ chính xác của các thông tin cung cấp cho người tham gia;

+ Bảo đảm chất lượng hàng hoá được bán theo phương thức bán hàng đa cấp;

+ Giải quyết các khiếu nại của người tham gia và người tiêu dùng;

+ Khấu trừ tiền thuế thu nhập cá nhân của người tham gia để nộp vào ngân sách nhà nước trước khi chi trả hoa hồng, tiền thưởng hoặc lợi ích kinh tế khác cho người tham gia;

+ Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ bán hàng đa cấp, pháp luật về bán hàng đa cấp cho người tham gia;

+ Quản lý người tham gia qua hệ thống Thẻ thành viên mạng lưới bán hàng đa cấp theo mẫu do Bộ Thương mại quy định;

+ Thông báo cho người tham gia những hàng hoá thuộc diện không được doanh nghiệp mua lại trước khi người đó tiến hành mua hàng.

3.3. Những hành vi bị cấm của doanh nghiệp bán hàng đa cấp:

Cấm doanh nghiệp bán hàng đa cấp thực hiện những hành vi sau đây:

3.3.1. Yêu cầu người muốn tham gia phải đặt cọc để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp.

3.3.2. Yêu cầu người muốn tham gia phải mua một số lượng hàng hoá ban đầu để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp.

3.3.3. Yêu cầu người muốn tham gia phải trả tiền hoặc trả bất kỳ khoản phí nào dưới hình thức khoá học, khoá đào tạo, hội thảo, hoạt động xã hội hay các hoạt động tương tự khác để được quyền tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp, trừ tiền mua tài liệu theo quy định.

3.3.4. Không cam kết cho người tham gia trả lại hàng hoá và nhận lại khoản tiền đã chuyển cho doanh nghiệp theo quy định.

3.3.5. Cản trở người tham gia trả lại hàng hoá phát sinh từ việc chấm dứt hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp.

3.3.6. Cho người tham gia nhận tiền hoa hồng, tiền thưởng, lợi ích kinh tế khác từ việc dụ dỗ người khác bán hàng đa cấp.

3.3.7. Từ chối chi trả không có lý do chính đáng các khoản hoa hồng, tiền thưởng hay các lợi ích kinh tế khác mà người tham gia có quyền hưởng.

3.3.8. Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp.

3.3.9. Cung cấp thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hoá để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp.

3.4. Điều kiện cấp giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp:

Doanh nghiệp được cấp Giấy đăng lý tổ chức bán hàng đa cấp khi đáp ứng đủ những điều kiện sau đây:

3.4.1. Đã thực hiện ký quỹ 5%  vốn điều lệ nhưng không thấp hơn 1 tỷ đồng Việt Nam ở một ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

3.4.2. Kinh doanh hàng hoá phù hợp với ngành nghề ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp.

3.4.3. Có đủ điều kiện kinh doanh hoặc được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật trong trường hợp kinh doanh hàng hoá thuộc danh mục hàng hoá kinh doanh có điều kiện (giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP).

3.4.4. Có chương trình bán hàng minh bạch và không trái pháp luật.

3.4.5. Có chương trình đào tạo người tham gia rõ ràng.

3.5. Hồ sơ đề nghị cấp giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp

Hồ sơ đề nghị cấp giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp được nộp tại Sở Thương mại hoặc Sở Thương mại – Du lịch cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh. Hồ sơ bao gồm:

+ Đơn đề nghị cấp giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp theo mẫu của Bộ Thương mại.

+ Bản sao có công chứng giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

+ Văn bản xác nhận của ngân hàng về số tiền ký quỹ theo quy định.

+ Bản sao có công chứng giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh trong trường hợp kinh doanh hàng hoá thuộc danh mục hàng hoá kinh doanh có điều kiện (giấy chứng nhận đủ điều kiện VSATTP).

+ Danh sách và lý lịch của những người đứng đầu doanh nghiệp có ảnh và xác nhận của công an xã, phường nơi cư trú. Đối với người nước ngoài, phải có xác nhận của Đại sứ quán hoặc cơ quan lãnh sự tại Việt Nam của nước người đó mang quốc tịch.

+ Chương trình bán hàng có nội dung quy định.

+ Chương trình đào tạo người tham gia có các nội dung quy định.

3.6. Thủ tục cấp, bổ sung giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp:

+ Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ đầy đủ, hợp lệ, Sở Thương mại hoặc Sở Thương mại – Du lịch cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đăng ký kinh doanh có trách nhiệm cấp giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp cho doanh nghiệp khi hồ sơ của doanh nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định.

Trường hợp không cấp giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp, Thương mại hoặc Sở Thương mại – Du lịch phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.

+ Doanh nghiệp đề nghị cấp giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp phải nộp lệ phí cấp giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp. Mức thu lệ phí và chế độ quản lý, sử dụng lệ phí do Bộ Tài chính quy định.

+ Trường hợp có những thay đổi liên quan đến nội dung của chương trình bán hàng thì doanh nghiệp có trách nhiệm làm thủ tục đề nghị cấp bổ sung giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp.

Trình tự, thời hạn cấp bổ sung giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp thực hiện theo quy định tại khoản (1) và khoản (2) như trên.

+ Trong thời hạn 15 ngày làm việc, kể từ ngày cấp hoặc bổ sung giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp, Sở thương mại hoặc Thương mại – Du lịch có trách nhiệm báo cáo bằng văn bản tới cơ quan quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Thương mại.

+ Khi doanh nghiệp bán hàng đa cấp phát triển mạng lưới bán hàng ra các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương mà doanh nghiệp không đặt trụ sở chính, doanh nghiệp phải thông báo cho Sở Thương mại hoặc Sở Thương mại – Du lịch của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đó.

+ Bộ Thương mại quy định mẫu giấy đăng ký tổ chức bán hàng đa cấp và mẫu thông báo tổ chức bán hàng đa cấp.

4. Người tham gia:

4.1. Điều kiện người tham gia:

4.1.1. Người tham gia bán hàng đa cấp (sau đây gọi chung là người tham gia) là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, đã ký hợp đồng tham gia bán hàng đa cấp với doanh nghiệp bán hàng đa cấp.

4.1.2. Những cá nhân sau đây không được tham gia bán hàng đa cấp:

+ Người đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc có tiền án về các tội sản xuất, buôn bán hàng giả, quảng cáo gian dối, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng, các tội về lừa đảo chiếm đoạt tài sản, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản;

+ Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có giấy phép lao động tại Việt Nam do cơ quan có thẩm quyền cấp.

4.2. Trách nhiệm của người tham gia:

Khi tham gia hoạt động bán hàng đa cấp, người tham gia có những trách nhiệm sau đây:

+ Xuất trình thẻ thành viên mạng lưới bán hàng đa cấp trước khi giới thiệu hàng hoá hoặc tiếp thị bán hàng;

+ Thông báo đầy đủ những nội dung quy định khi bảo trợ một người khác tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp.

+ Đưa tin trung thực, chính xác về loại, chất lượng, giá cả, cộng dụng, cách thức sử dụng của hàng hoá được bán;

+ Tuân thủ quy định trong quy tắc hoạt động và chương trình bán hàng của doanh nghiệp.

4.3. Cấm người tham gia thực hiện những hành vi sau đây:

+ Yêu cầu người được mình bảo trợ tham gia vào mạng lưới bán hàng đa cấp trả bất kỳ khoản phí nào dưới danh nghĩa khoá học, khoá đào tạo, hội thảo, hoạt động xã hội hay các hoạt động tương tự khác;

+ Cung cấp thông tin gian dối về lợi ích của việc tham gia bán hàng đa cấp, thông tin sai lệch về tính chất, công dụng của hàng hoá, về hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp để dụ dỗ người khác tham gia bán hàng đa cấp.

Tóm lại: ở Việt Nam chưa phát triển nhiều hình thức phân phối TPCN, chủ yếu là các quầy TPCN trong các hiệu thuốc. Các hình thức: cửa hàng và chuỗi cửa hàng TPCN, các quầy TPCN trong siêu thị và trung tâm thương mại, bán hàng đa cấp, bán hàng qua mạng cũng đã hình thành nhưng chưa rộng rãi. Những hạn chế chung hiện nay là:

- Chưa ban hành được tiêu chuẩn, quy chuẩn về TPCN.

- Chưa ban hành tiêu chuẩn GMP cho các cơ sở sản xuất TPCN.

- Phần đông còn chưa hiểu đúng – làm đúng và dùng đúng về TPCN, ví dụ như nhiều người cứ nói đến bán hàng đa cấp là “dị ứng”, cho là không tốt và có cái gì đó không minh bạch. Đồng thời một số cá nhân tham gia bán hàng đa cấp vì lợi nhuận nên đã tuyên truyền thái quá về công dụng của TPCN, làm ảnh hưởng tới uy tín của loại hình phân phối này.

- Người tiêu dùng còn phàn nàn về giá cả của một số sản phẩm TPCN còn quá cao.

Những kiến nghị để giảm giá có thể là: giảm thuế, nhất là thuế nhập khẩu, kêu gọi các nhà sản xuất, kinh doanh giảm giá để người tiêu dùng có thể được sử dụng rộng rãi hơn các sản phẩm TPCN cho mục đích tăng cường sức khoẻ cho cộng đồng.


Filed in: Sách Thực phẩm chức năng

No comments yet.

Leave a Reply

Current ye@r *